36 Đường Số 5A, P.8
Q.11, TP.Hồ Chí Minh
028.668.56057
0938.069.192
info@naturallink.com
support@naturallink.com

Ảnh hưởng của Aglycone trong mô hình thí nghiệm về hội chứng chuyển hóa sau mãn kinh

anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a
by

Hàng loạt nghiên cứu quốc tế chứng minh, bổ sung phytoestrogen dạng Aglycone là giải pháp hiệu quả giúp cải thiện các vấn đề bệnh lý về tim mạch, tiểu đường, béo phì thường gặp ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh.

Thiếu hụt estrogen và mối liên hệ với nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ nữ

Phụ nữ tiền mãn kinh thường có những dấu hiệu phát triển chứng béo phì, tăng kháng insulin. Những triệu chứng này thường xuất hiện do sự chuyển hoá quá mức khi nồng độ estrogen nội sinh giảm sút nhanh chóng.

Các hội chứng chuyển hoá tiền mãn kinh còn bao gồm hiện tượng rối loạn lipid trong máu và cao huyết áp… làm tăng nguy cơ về bệnh tim mạch và bệnh đái tháo đường (Alexander & Clearfield 2006, Rosano và cộng sự, 2006, Sinagra & Conti 2007) tuýp 2 ở phụ nữ trung niên, đặc biệt là ở phụ nữ trong giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh tim mạch ở độ tuổi này thường cao hơn so với nam giới.

   anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a

Tỷ lệ phụ nữ thời kỳ mãn kinh mắc bệnh tim mạch phân theo độ tuổi

(Credit: martialm0nk)

Theo các chuyên gia, các yếu tố chính liên quan đến hội chứng chuyển hoá này thường là tình trạng thiếu hụt estrogen, chế độ ăn uống và lối sống hằng ngày. Nếu điều chỉnh, áp dụng chế độ ăn uống, lối sống khoa học hơn, bổ sung phytoestrogen (estrogen từ thực vật), sử dụng nhiều thực phẩm tự nhiên, áp dụng các giải pháp điều trị phù hợp nhằm quản lý các yếu tố liên quan đến vấn đề tim mạch như sử dụng chất chống cao huyết áp, lipid… có thể giúp giảm nguy cơ về các chuyển hoá tiền mãn kinh, mãn kinh hiệu quả.

Liệu pháp thay thế hormone (HRT) cũng là biện pháp giúp cải thiện độ nhạy cảm của cơ thể với insulin và giảm nguy cơ bệnh tiểu đường (Schneider và cộng sự, 2006) ở phụ nữ trung niên, đặc biệt là phương pháp sử dụng phytoestrogen genistein (estrogen thực vật) dạng aglycone với độ an toàn cao, khả năng hấp thụ mạnh mẽ trong đường ruột và dạ dày, ít gây ra tác dụng phụ hơn các giải pháp HRT được sử dụng rộng rãi trước đây.

Tác dụng của Aglycone Genistein và cơ chế ảnh hưởng đến hội chứng chuyển hoá tiền mãn kinh

Nhiều nghiên cứu gần đây chứng minh, phytoestrogen – cụ thể là phytoestrogen Genistein dạng Aglycone mang lại hiệu quả cao trong việc tác động tích cực đến các hội chứng chuyển hoá tiền mãn kinh như tăng cân mất kiểm soát, béo phì, nguy cơ tim mạch, tiểu đường vượt trội.

anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a-d

anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a

Thức ăn/khối lượng cơ thể thay đổi ở chuột thí nghiệm trong suốt 4 tuần điều trị bằng Aglycone Genistein

(Source: endocrinology-journals)

Những thử nghiệm gần gần đây cho thấy bổ sung Aglycone Genistein ở phụ nữ tiền mãn kinh sớm cũng mang lại kết quả tương tự, đặc biệt ngăn ngừa bệnh lý tim mạch, loãng xương và các bệnh ung thư liên quan đến hormone (McCarty 2006).

Aglycone Genistein In vivo cho thấy có khả năng làm giãn các động mạch bằng một cơ chế phụ thuộc NO (Li và cộng sự, 2004) đồng thời tăng cường đáp ứng yêu cầu giãn nở đối với chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine của các động mạch vành bị xơ vữa (Honoréet al 1997).

Aglycone Genistein trong cơ thể cũng cải thiện rối loạn chức năng nội mô do ảnh hưởng của phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng (Squadrito và cộng sự 2000) làm giảm hiện tượng nhồi máu trong một mô hình thí nghiệm thiếu máu cơ tim (Deodato et al.1999).

anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a

Phytoestrogen Genistein là một hoạt chất dạng Aglycone

Các nghiên cứu cũng chứng minh, Aglycone Genistein sử dụng ở những phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh khỏe mạnh làm tăng các sản phẩm phân hủy oxit nitric trong huyết thanh, giảm mức endothelin-1, cải thiện tình trạng giãn mạch nội mạc tử cung (Squadrito và cộng sự, 2002, 2003), giảm homocysteine ​​và nồng độ protein phản ứng C (D’Anna và cộng sự, 2005), mang lại kết quả cao trong việc điều trị triệu chứng bốc hoả (Crisafulli và cộng sự 2004, D’Anna và cộng sự 2007) và cải thiện một số dấu hiệu liên quan đến bệnh tim mạch ở phụ nữ tiền mãn kinh (Crisafulli et al. 2005, Atteritano và cộng sự, 2007).

Aglycone Genistein còn có khả năng kích hoạt thụ thể proliferator, từ đó kích hoạt peroxisome PPARs (Dang và cộng sự 2003) – một nhóm nhỏ của các thụ thể hormone nucleic của các yếu tố phiên mã kích hoạt ligand – giúp điều chỉnh độ nhạy cảm insulin, phân bố mỡ, chuyển hoá lipid, huyết áp… Các chất chủ vận thụ thể peroxisome proliferator sẽ kích hoạt (PPARs), như fibrates và thiazolidinediones, nhằm điều trị rối loạn chuyển hóa như tăng lipid máu và bệnh đái tháo đường. Cả hai đều là những hiện tượng điển hình của hội chứng chuyển hóa tiền mãn kinh (Bragt & Popeijus 2008).

Một vài thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược được thực hiện trên 120 phụ nữ tiền mãn kinh. Sau giai đoạn ổn định 4 tuần đầu tiên, những phụ nữ tiền mãn kinh này được phân chia ngẫu nhiên để nhận giả dược (n = 60) hoặc 54 mg genistein aglycone hàng ngày (n = 60), sử dụng kéo dài trong 1 năm.

anh-huong-cua-aglycone-trong-mo-hinh-thi-nghiem-ve-hoi-chung-chuyen-hoa-sau-man-kinh-a

Ảnh hưởng của Aglycone Genistein đối với HOMA-IR (chỉ số kháng insulin) và lipid huyết tương. Các chỉ số triglyceride HOMA-IR và cholesterol được đánh giá sau 28 ngày điều trị bằng Aglycone Genistein. Tổng cholesterol được so sánh với cholesterol LDL, sau khi chọn lọc lượng HDL bằng các phương pháp chuẩn

(Source: endocrinology-journals)

Tiêu chí đánh giá chính là chỉ số kháng insulin (HOMA-IR) 1 năm, bao gồm các tiêu chí phụ như lượng glucose, insulin, cholesterol tổng hợp, lipoprotein cholesterol mật độ thấp (LDL-C), lipoprotein cholesterol mật độ cao (HDL-C), triglycerides, visfatin, adiponectin và homocysteine.

Các báo cáo cho thấy, ở những người sử dụng genistein, nồng độ glucose, insulin lúc đói và HOMA-IR (ở mức 4,5 đến 2,7, P <0,001) giảm nhanh, riêng ở những người sử dụng giả dược, những chỉ số này không thay đổi. Trong đó, Genistein Aglycone làm tăng HDL-C (trung bình từ 46,4 lên 56,8 mg / dL) và adiponectin, đồng thời làm giảm cholesterol toàn phần, LDL-C (trung bình từ 108,8 đến 78,7 mg / dL), triglycerides, visfatin và homocysteine ​​(trung bình từ 14,3 đến 11,7 μmol / L) trong máu. Huyết áp tâm thu và tâm trương cũng giảm đáng kể ở người sử dụng genistein aglycone. Ghi nhận về tác dụng phụ ở nhóm bệnh nhân dùng Genistein và giả dược không có sự khác biệt

Như vậy, sau một năm điều trị với genistein aglycone, kết quả thu được từ các nghiên cứu cho thấy, hoạt chất này có thể giúp cải thiện các hội chứng chuyển hoá có liên quan đến việc làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch ở phụ nữ tiền mãn kinh hiệu quả mà vẫn đảm bảo các yếu tố an toàn cho sức khoẻ người dùng.


Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *